Sỏi Mật Trái Sung
Tư vấn xuyên suốt
Lộ trình sử dụng
Sỏi Mật Trái Sung
Chuyên gia đồng hành
cùng 100% khách hàng
Sỏi Mật Trái Sung
Phân phối trên 15.000
nhà thuốc trên toàn quốc

SỎI MẬT GỒM CÓ MẤY LOẠI?

Sỏi mật được xem là một bệnh về đường tiêu hoá, do sự xuất hiện sỏi cholesterol hoặc sỏi sắc tố mật, có trường hợp bệnh nhân mắc cả hai loại trên. Cùng SMTS tìm hiểu sỏi mật do đâu mà có nhé

1. Các dạng sỏi mật thường gặp

1.1 Sỏi cholesterol

Gan sản sinh quá nhiều cholesterol trong khi lượng acid mật và lecithin tiết ra không đủ để hòa tan chất béo này. Sỏi cholesterol do cholesterol kết tinh trong dịch mật, khi nồng độ cholesterol trong mật cao, nồng độ muối mật thấp, có sự ứ đọng dịch mật và một số nguyên nhân khác.. Những hạt này tăng kích thước theo thời gian và dần kết tụ với nhau hình thành sỏi viên, không cản tia X và có màu nhạt.

Sỏi mật thường hình thành theo hai cách:

⦾ Nồng độ cholesterol tăng bất thường do gan hoặc do thiếu hụt acid mật

⦾ Dịch mật bị ứ trệ lâu ngày trong mật.

sỏi cholesterol

Đặc điểm của người mắc sỏi cholesterol túi mật:

➢ Độ tuổi càng cao càng dễ mắc bệnh. Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới.

➢ Phụ nữ mang thai dễ mắc sỏi mật vì trong giai đoạn này, túi mật không co bóp như bình thường được nên mật tích tụ nhiều cholesterol hơn

➢ Những người béo phì

➢ Phụ nữ dùng thuốc tránh thai, liệu pháp hormone thay thế

➢ Người áp dụng chế độ giảm cân khắc nghiệt, giảm cân quá nhanh.

➢ Bệnh viêm đường tiêu hóa Crohn (là một loại bệnh viêm ruột (IBD) có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa từ miệng đến hậu môn) khiến cơ thể người bệnh không thể tái hấp thu acid mật.

➢ Tăng triglyceride máu

➢ Ăn thức ăn có hàm lượng cholesterol cao lâu ngày

1.2 Sỏi sắc tố mật

Khác với sỏi cholesterol thường nằm ở trong túi mật, sỏi sắc tố thường xuất hiện trong ống dẫn mật và ống dẫn mật chủ với thành phần cấu tạo chính là sắc tố mật bilirubin.

Bilirubin là phần thải ra khi hồng cầu chết, được phân tán vào máu. Gan là cơ quan loại bỏ bilirubin khỏi cơ thể thông qua quá trình bài xuất mật. Sỏi sắc tố được tạo thành khi có quá nhiều bilirubin hoặc quá nhiều bilirubin chuyển hóa từ dạng hòa tan được thành dạng không tan ở trong dịch mật.

Do sự chênh lệch thành phần hình thành (muối calci, bilirubin và cholesterol), sỏi sắc tố được chia làm hai loại là sỏi sắc tố nâu và sỏi sắc tố đen

1.3 Sỏi sắc tố đen

Khi có quá nhiều bilirubin, bilirubin này sẽ cùng với các thành phần khác trong dịch mật như canxi, để hình thành nhân sắc tố. Khả năng hòa tan của nhân sắc tố trong dịch mật kém, do đó chúng có xu hướng kết dính lại với nhau và lớn dần thành sỏi. Những viên sỏi được hình thành theo cách này gọi là sỏi sắc tố đen, đặc điểm là màu đen và rất cứng.

sỏi sắc tố đen
Sỏi sắc tố đen

1.4 Sỏi hỗn hợp

Sỏi hỗn hợp là là sự kết hợp của sỏi cholesterol và sỏi sắc tố.

Sỏi hỗn hợp có cơ chế hình thành do các nguyên nhân làm ứ trệ lưu thông dịch mật, lắng đọng và tạo sỏi, cụ thể là các đối tượng có lối sống ít hoạt động, ngồi nhiều,…Chế độ ăn kiêng tuyệt đối chất béo khiến nhu cầu bài tiết dịch mật giảm thiểu, túi mật giảm vận động, ít co bóp để tống xuất dịch mật nên dễ tạo sỏi.

1.5 Sỏi sắc tố nâu

Sỏi sắc tố nâu lại có ít bilirubin và nhiều cholesterol hơn sỏi sắc tố đen. Khi túi mật hoặc đường mật bị giảm co bóp, dịch mật chậm lưu thông tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ tá tràng xâm nhập vào đường ống dẫn mật và túi mật. Các vi khuẩn chuyển hóa bilirubin từ dạng bilirubin liên hợp về dạng bilirubin tự do, sau đó cùng với canxi tạo thành nhân sắc tố. Nhân sắc tố cùng với chất béo trong dịch mật (cholesterol và lecithin) dần dần hình thành sỏi mật. Đó là cách sỏi sắc tố nâu được hình thành, cũng là nguyên nhân khiến chúng có màu nhạt hơn so với sỏi sắc tố đen. Sỏi sắc tố nâu thường bóng, mịn, mềm nhưng lại khó vỡ hơn so với sỏi sắc tố đen.

sỏi sắc tố nâu
Sỏi sắc tố nâu

Các nguyên nhân gây bệnh sỏi sắc tố mật

Người bệnh thiếu máu huyết tán (bệnh thalassemia)

Thiếu máu huyết tán là bệnh lý đặc trưng do sự thiếu các tế bào hồng cầu, là nguyên nhân làm tăng nguy cơ hình thành sỏi sắc tố mật. Thường là sỏi sắc tố đen.

Bệnh nhiễm vi khuẩn E.coli

Vi khuẩn E.coli là vi khuẩn có rất nhiều trong đường ruột và phân. E.coli có thể gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm và nồng độ lớn vi khuẩn E.coli trong đường mật có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi sắc tố. Hạn chế tiêu thụ thức ăn tái, rau sống, ăn chín uống sôi có thể làm giảm nguy cơ này.

Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm

Thiếu máu hồng cầu hình liềm hay bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm là một bệnh di truyền do bất thường về hình dạng của các tế bào hồng cầu. Do sự khiếm khuyết mà những tế bào hồng cầu này có thể dễ dàng bị vỡ khi đi qua các mạch máu và các cơ quan trong cơ thể. Khi bị vỡ, chúng giải phóng ra một lượng lớn bilirubin, làm tăng nguy cơ hình thành sỏi sắc tố mật đen.

Nhiễm giun đũa, sán đường ruột chui lên đường mật

Nguyên nhân phổ biến gây nên sỏi sắc tố mật là do sự có mặt của ký sinh trùng (giun, sán) ở trong đường mật. Khi giun, sán xâm nhập vào ống mật sẽ để lại xác hoặc trứng, là nơi để sắc tố mật và calci bám vào tạo sỏi.

Mắc bệnh xơ gan

Xơ gan mạn tính có thể khiến gan sản xuất một lượng lớn bilirubin, làm mất cân bằng các chất có trong dịch mật, từ đó tăng nguy cơ hình thành sỏi sắc tố.

2. Làm sao phát hiện sỏi mật?

Bệnh có thể xảy ra ở bất kì đối tượng nào, tuy nhiên tỷ lệ ở phụ nữ cao hơn nam giới và tuổi càng cao tỷ lệ mắc phải càng cao nên những đối tượng sau nên tham khám tầm soát bệnh:

  • ✔ Người từ 35-40 tuổi trở đi, đặc biệt là phụ nữ
  • ✔ Người bị thừa cân, béo phì, chế độ ăn uống không cân bằng, ít vận động, sinh đẻ nhiều,…

Tại Việt Nam hiện nay, nhờ vào việc áp dụng phổ biến siêu âm bụng trong chẩn đoán hay khám tổng quát, tỷ lệ phát hiện các ca mắc sỏi túi mật đơn thuần được gia tăng đáng kể.

tỷ lệ mắc bệnh ở người béo phì cao

SỎI MẬT DO ĐÂU MÀ CÓ?

Sỏi mật là một bệnh lý gan mật thường gặp ở Việt Nam và trên thế giới. Theo các nghiên cứu ghi nhận được ở những người trưởng thành, tuổi càng cao sẽ có tỉ lệ mắc bệnh sỏi gấp 4-10 lần so với những người trẻ tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật ở phụ nữ mang thai cao gấp đôi so với nam giới. Sỏi mật có thể gây những biến chứng nhiễm trùng, ngoại khoa nguy hiểm. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời để dự phòng các biến chứng có thể xảy ra là điều hết sức cần thiết.

Sự hiện diện của sỏi mật trong hệ thống đường mật bao gồm: đường mật trong gan, túi mật, ống mật ngoài gan tận bóng Vater.

1. Nguyên nhân

Trong cơ thể người, túi mật là một bộ phận thuộc hệ thống đường dẫn mật. Túi mật là một túi nhỏ nằm dưới gan, vùng bụng bên phải, dưới bờ sườn phải. Túi mật gồm thân, ống và cổ túi mật.

Sỏi mật sẽ được hình thành khi mất cân bằng trong thành phần của dịch mật dẫn đến kết tủa của một hoặc nhiều thành phần. Trên thực tế, cholesterol không tan trong nước nhưng trong túi mật cholesterol sẽ được hòa tan bởi muối mật. Khi có sự gia tăng số lượng cholesterol sẽ làm giảm khả năng hòa tan của cholesterol dẫn tới hình thành sỏi mật (sỏi cholesterol). Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự hình thành và phát triển của sỏi mật, ngoài ra sỏi còn được hình thành khi có các bệnh lý tại gan (suy giảm chức năng gan) hoặc cung cấp quá nhiều cholesterol trong chế độ ăn hàng ngày. Túi mật và ống túi mật là nơi chứa đựng và dự trữ dịch mật do gan tổng hợp và bài tiết ra. Khi ăn, gan sẽ bài tiết dịch mật nhiều hơn, túi mật có tác dụng co bóp đẩy dịch mật vào ống mật chủ, từ đó đổ vào tá tràng và xuống ruột non, giúp phân hủy chất béo, thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể. Tuy nhiên, nếu chức năng gan suy giảm, sự vận động của túi mật kém sẽ gây ứ mật.

Sự xuất hiện của sỏi mật làm cản trở dòng chảy của dịch mật, tăng áp lực trong đường mật mỗi khi túi mật co bóp hoặc gây viêm, tổn thương đường mật, túi mật. Bên cạnh đó, nếu chế độ ăn quá nhiều cholesterol dẫn tới lượng cholesterol quá nhiều trong dịch mật, lâu ngày sẽ tạo thành sỏi. Ngược lại, khi số lượng cholesterol bình thường nhưng số lượng muối mật giảm vì một lý do nào đó (viêm nhiễm đường mật,…) cũng sẽ làm giảm sự hòa tan của cholesterol, lúc đó sự hình thành sỏi mật do sự mất cân bằng các thành phần trong dịch mật xảy ra.

sự hình thành của sỏi mật
Sỏi mật được hình thành khi mất cân bằng trong thành phần của dịch mật

Một số nguyên nhân khác như: bệnh về đường ruột (viêm ruột mạn tính, bệnh lý hồi tràng,…) sẽ làm giảm sự hấp thu các axít mật, hoặc sử dụng liệu pháp điều trị bằng hormone, thuốc tránh thai kéo dài cũng làm tăng nguy cơ mắc sỏi mật (vì chúng làm tăng nồng độ cholesterol và giảm sự co bóp của túi mật).

Ngoài sự gia tăng cholesterol làm sự xuất hiện tinh thể sỏi cholesterol, nếu trong dịch mật có quá nhiều bilirubin cũng sẽ hình thành sỏi sắc tố. Khác với sỏi cholesterol có thành phần chính là cholesterol và thường nằm ở trong túi mật, sỏi sắc tố hiện diện chủ yếu tại đường dẫn mật trong gan, ống gan chung và ống dẫn mật chủ với thành phần cấu tạo chính là sắc tố mật bilirubin.

Bilirubin là sản phẩm thải khi hồng cầu chết đi, sau đó được phân tán vào máu. Gan là cơ quan có nhiệm vụ loại bỏ bớt bilirubin ra khỏi cơ thể thông qua quá trình bài xuất mật.

Sỏi sắc tố được tạo thành khi có quá nhiều bilirubin, hoặc bilirubin bị chuyển hóa từ dạng hòa tan thành dạng không tan ở trong dịch mật.

Dựa theo màu sắc, sỏi sắc tố được chia làm hai loại là sỏi sắc tố nâu và sỏi sắc tố đen. Sở dĩ có sự khác biệt về màu sắc là do chênh lệch về hàm lượng các thành phần trong sỏi mật (muối calci, bilirubin và cholesterol).

"<yoastmark

Một số nghiên cứu về sỏi mật còn đề cập đến nguyên nhân do giảm vận động đường mật (ngồi nhiều, ít vận động cơ thể ở người lái xe thường xuyên, nhân viên văn phòng, người cao tuổi,…) khiến cho dịch mật bị ứ trệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần ở trong dịch mật lắng đọng và kết tủa thành sỏi.

Hoặc sỏi mật có thể do chế độ ăn kiêng quá mức, trong khẩu phần ăn không có chất béo trong một thời gian dài sẽ làm làm giảm sự co bóp của túi mật hoặc những người phải nuôi ăn qua đường tĩnh mạch dài ngày hoặc do viêm túi mật mạn tính hoặc thường xuyên sử dụng thuốc giảm sự co bóp cơ trơn như atropine, papaverin,…(bệnh dạ dày, bệnh gan mật, sỏi tiết niệu,…). Tất cả các lý do nêu trên đều có thể làm giảm chức năng co bóp của túi mật dẫn đến hình thành sỏi mật.

Ngoài ra, một số yếu tố nguy cơ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hình thành sỏi mật như:

Tuổi tác: Các nghiên cứu cho thấy rằng tuổi ngày càng tăng liên quan đến bệnh sỏi mật. Do càng lớn tuổi, hoạt động của cholesterol 7α hydroxylase giảm (Cholesterol 7 α hydoroxylase là một enzyme giới hạn tốc độ sinh tổng hợp acid mật và loại bỏ cholesterol).

Yếu tố di truyền: Số liệu ghi nhận được tỉ lệ bệnh sỏi mật cholesterol ở mỗi quốc gia khác nhau như ở Châu Phi và Bắc Mĩ chiếm 10-30%, rất cao chiếm 30-70% dân số Mĩ,… Bộ lạc Pima ở Arizona có tỉ lệ sỏi mật cao nhất trên thế giới có hơn 70% phụ nữ Pima trên 25 tuổi bị sỏi mật hoặc có tiền sử cắt túi mật.

Thường xuyên tập thể dục kết hợp chế độ ăn kiêng sẽ cải thiện tình trạng béo phì và sỏi mật cholesterol, tuy nhiên lối sống tĩnh tại không hoạt động sẽ dẫn tới nguy cơ mắc bệnh sỏi cao. Hoặc bị táo bón kéo dài (gặp nhiều ở người cao tuổi do ít uống nước, ít ăn rau, ít vận động cơ thể. Táo bón kéo dài còn tạo điều kiện cho vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột. Khi các vi khuẩn này phát triển và di chuyển ngược lên đường mật qua lỗ mật vào tá tràng hoặc vi khuẩn theo đường máu, bạch huyết di chuyển tới đường dẫn mật, túi mật gây viêm nhiễm.

Mọi người nên biết rằng khi giun chui vào ống mật cũng là một nguyên nhân đáng kể hình thành sỏi mật. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng không có một yếu tố chắc chắn nào gây nên sỏi mật, mà nó có thể được hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Chú ý: Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Hiện siêu âm là phương pháp được sử dụng nhiều và có giá trị trong chẩn đoán.

2. Triệu chứng

Những triệu chứng của sỏi mật thường không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh dạ dày, gồm các triệu chứng sau:

Phần lớn các trường hợp sỏi mật sẽ có triệu chứng đau bụng đột ngột, cơn đau thường xuất hiện sau bữa ăn đặc biệt khi ăn nhiều dầu mỡ hoặc về đêm làm cho người bệnh mất ngủ. Vị trí đau là vùng hạ sườn phải hoặc thượng vị lệch sang phải, lan lên vai phải hoặc sau lưng, đau bụng làm cho người bệnh lăn lộn trên giường, có thể đau làm người bệnh không dám thở mạnh. Trong trường hợp không điển hình, chỉ đau âm ỉ hoặc tức nặng ở hạ sườn phải, hoặc vùng thượng vị lệch phải và lan lên ngực, các triệu chứng này rất dễ nhầm lần với các bệnh dạ dày. Vì vậy khi gặp các triệu chứng trên mình chưa vội kết luận bệnh, thay vào đó mình nên đi khám để được chẩn đoán chính xác nhất.

đau hạ sườn phải khi bị sỏi mật

Sỏi mật làm cản trở dòng chảy của dịch xuống đường tiêu hóa, dẫn đến các tình trạng đầy hơi, chậm tiêu, chán ăn, sợ các thức ăn có chứa nhiều dầu mỡ.

Người bệnh cần đến bệnh viện thăm khám và điều trị càng sớm càng tốt khi xuất hiện các dấu hiệu sau đây:

➢ Đau bụng dữ dội khi kéo dài nhiều giờ mặc dù đã sử dụng thuốc giảm đau.

➢ Sốt cao trên 38oC có kèm theo ớn lạnh, rét run, vã mồ hôi.

➢ Vàng da, vàng mắt do sỏi cố túi mật chèn ép ống gan chung.

3. Biến chứng do sỏi mật

Đối với biến chứng cấp tình đáng lo ngại là viêm đường dẫn mật, trong đó viêm túi mật cấp hoặc vỡ túi mật do sỏi là nguy hiểm hơn cả. Nếu vỡ túi mật không phát hiện và xử lý kịp thời có thể thấm phúc mạc (chiếm 14-18%) biến chứng bệnh nhân sỏi phải mổ. Sỏi gây tắc làm túi mật căng lên và to, ống mật chủ và các ống gan giãn mỏng, mật sẽ thấm qua thành ống mật và túi mật vào ổ bụng) gây viêm phúc mạc- rất nguy hiểm đến tính mạng (sốc nhiễm trùng).

Viêm phúc mạc
Viêm phúc mạc

Ngoài ra các biến chứng mạn có thể gây xơ gan do ứ mật vì do nhiều lần tắc mật dẫn đến các tế bào gan bị suy, viêm tụy mãn,…

4. Nguyên tắc điều trị sỏi mật

Khi nghi ngờ bị sỏi mật cần đi khám bệnh để được thực hiện các xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng, trên cơ sở các kết quả thu được, bác sĩ sẽ có hướng điều trị. Trước tiên là điều trị nội khoa (dùng thuốc chữa sỏi mật), ngay cả khi có viêm nhiễm đường mật, nhất là đối với người cao tuổi, sức khỏe yếu. Nếu điều trị nội khoa không khỏi và sỏi ảnh hưởng đến chất lượng sống, có thể phải hội chẩn để điều trị ngoại khoa (phẫu thuật) nhằm hạn chế biến chứng. Ngày nay, có rất nhiều phương pháp được áp dụng như phẫu thuật cổ điển, mổ nội soi, nội soi đường mật ngược dòng, phá sỏi bằng máy tán,…

5. Lời khuyên của Bác sĩ

Để không bị sỏi mật, cần ăn uống hợp vệ sinh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường sạch là góp phần đáng kể ngăn ngừa bệnh sỏi mật và các bệnh về đường ruột. Nên tẩy giun 6 tháng một lần. Cần có chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý, hạn chế ăn mỡ động vật và các loại thực phẩm có khả năng làm tăng mỡ máu như thịt đỏ, tôm, mỡ, phủ tạng động vật,…Tuy nhiên để kích thích túi mật co bóp nhẹ nhàng, có thể sử dụng một ít chất béo dễ tiêu như bơ, dầu thảo mộc,…Nên vận động, tập thể dục thường xuyên tránh ngồi lâu một chỗ. Nếu bị mỡ máu cao cần tích cực điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ đang điều trị.

Khi đã xác định mắc bệnh sỏi cần điều trị tích cực theo chỉ dẫn của bác sĩ, không tự động bỏ thuốc hay thay thuốc, không tự ý mua thuốc để điều trị khi chưa có chỉ dẫn, cần tái khám định kỳ theo lời dặn của bác sĩ. Khi có điều bất thường cần đi khám bệnh ngay để được chẩn đoán, điều trị kịp thời.

https://soimattraisung.com

BẠN NÊN BIẾT: SỎI THẬN HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Sỏi thận là một bệnh khá phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới với tỷ lệ mắc bệnh tăng rõ rệt trong những năm qua. Theo dự đoán sỏi thận có tỷ lệ tăng trong tương lai do sự nóng lên của toàn cầu, lối sống tĩnh tại, béo phì, chế độ ăn uống. Vậy sỏi thận là gì? Chúng được hình thành như thế nào?… Hãy cùng sỏi mật trái sung tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

1. Sỏi thận là gì?

Thận là hai cơ quan có hình hạt đậu trong hệ thống thận. Thận thực hiện nhiều chức năng quan trọng như: duy trì cân bằng chất lỏng trong cơ thể, điều hòa và lọc các khoáng chất từ máu, lọc các chất dư thừa từ thực phẩm; thuốc và các chất độc hại, tạo ra các hormone giúp tạo ra các tế bào hồng cầu, điều hòa huyết áp,…

Sỏi thận là những cặn cứng được hình thành do sự kết tinh của khoáng chất và muối bên trong thận của bạn.

Sỏi thận có thể ảnh hưởng đến bất kì phần nào của đường tiết niệu của bạn bao gồm từ thận đến bàng quang.

sỏi thận gây đau đớn cho người bệnh
Sỏi thận là những cặn cứng được hình thành do sự kết tinh của khoáng chất và muối bên trong thận

2. Nguyên nhân hình thành sỏi thận

Các nguyên nhân gây nên sỏi thận thường không rõ ràng, tuy nhiên một số nguyên nhân hình thành sỏi thận được đề cập tới. Sỏi thận hình thành khi trong nước tiểu của bạn chứa nhiều chất tạo tinh thể như canxi, oxalate, acid uric, phosphate,…Hoặc trong nước tiểu của bạn thiếu các chất ngăn chặn các tinh thể trên dính lại với nhau, từ đó sẽ tạo điều kiện lý tưởng cho việc hình thành sỏi thận.

Các yếu tố nguy cơ có thể làm tăng khả năng mắc bệnh sỏi, bao gồm:

Lịch sử mắc bệnh của gia đình hoặc cá nhân: nếu có thành viên trong gia đình của bạn bị sỏi thận thì khả năng bạn có thể mắc bệnh sỏi thận khá cao. Hoặc bạn đã có tiền sử mắc bệnh sỏi thận trước đây thì khả năng mắc lại cũng sẽ rất cao.

Cung cấp nước cho cơ thể: việc bạn không uống đủ nước mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ sỏi thận. Đối với những người sống ở vùng có khí hậu nóng và những người có công việc đổ mồ hôi nhiều thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác do mất nước

Chế độ ăn uống: khi bạn có chế độ ăn giàu protein, muối và đường có thể làm tăng một số bệnh liên quan đến thận. Việc bạn ăn quá nhiều muối trong chế độ ăn dẫn đến tăng hàm lượng canxi, do đó bắt buộc thận bạn phải làm việc nhiều, tăng lọc và từ đó có thể tăng nguy cơ sỏi thận.

Việc áp dụng chế độ ăn phòng ngừa bệnh sỏi thận góp phần giảm nguy cơ mắc bệnh, và hỗ trợ điều trị sỏi thận hiệu quả hơn.

Béo phì: với chỉ số khối cơ thể cao (BMI), tăng cân không kiểm soát với một chế độ ăn uống không lành mạnh, lối sống tĩnh tại lười vận động có liên quan đến việc tăng nguy cơ sỏi thận.

Khi bạn phải phẫu thuật cắt dạ dày hay mắc các bệnh viêm ruột, tiêu chảy mãn tính sẽ ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa dẫn đến việc hấp thu canxi và nước cũng bị ảnh hưởng. Từ đó có thể tăng nguy cơ mắc bệnh sỏi thận.

Những nguyên nhân hình thành sỏi thận
Những nguyên nhân hình thành sỏi thận

3. Sỏi thận có bao nhiêu loại?

Khi biết đang mắc loại sỏi thận sẽ giúp đưa ra các nguyên nhân để đưa ra các biện pháp điều trị và phòng ngừa. Sỏi thận gồm các loại sau:

Sỏi canxi: khoảng 80% bệnh nhân bị sỏi thận hình thành do sỏi canxi và ở dưới dạng canxi oxalate. Oxalate là một chất tự nhiên có trong thực phẩm và được sản xuất hàng ngày bởi gan. Trong một số loại trái cây, rau củ và các loại hạt có hàm lượng oxalate cao. Ngoài ra, sỏi canxi còn gặp dưới dạng canxi phosphate nhưng hiếm hơn. Việc hình thành sỏi canxi phosphate thường xảy ra trong bất thường trao đổi chất ví dụ như nhiễm toan ống thận, đôi khi nó có thể gây ra bởi một số loại thuốc.

Sỏi struvite: hình thành trong điều kiện có nhiễm trùng do các vi khuẩn như Proteus, Providencia, Klebsiella, Pseudomonas và enterococci. Những viên sỏi struvite có thể phát triển một cách nhanh chóng và có kích thước khá lớn cũng với một số triệu chứng không rõ ràng. Đây được xem là loại sỏi khó điều trị nhất.

Sỏi acid uric: thường gặp phải ở những người cung cấp không đủ nước cho cơ thể hay mất quá nhiều nước, những người có chế độ ăn uống giàu protein và ở những người mắc bệnh gout. Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng có thể dẫn đến nguy cơ mắc sỏi acid uric.

Sỏi cysteine: Cystein là một acid amin được hình thành bởi sự liên kết của hai phân tử cysteine thông qua liên kết disulfide. Khi độ hòa tan của cysteine giảm có thể dẫn đến việc hình thành sỏi cysteine. Đối với những bệnh nhân bị sỏi cysteine sự bài tiết cysteine có thể dao động từ 250 mg đến hơn 1000 mg trong một ngày.

Hy vọng qua bài viết này, bạn có thể phần nào hình dung sỏi thận được hình thành như thế nào. Hãy cùng Sỏi mật trái sung tìm hiểu tiếp những vấn đề liên quan đến sỏi thận qua những bài viết dưới đây…

Bốn loại sỏi thận phổ biến
Bốn loại sỏi thận phổ biến

Về Sỏi Mật Trái Sung

Sỏi Mật Trái Sung chiết xuất từ trái sung, kim tiền thảo, nấm linh chi…dùng cho người bị sỏi thận, sỏi mật và các trường hợp sau phẫu thuật lấy sỏi, tán sỏi để tăng bài tiết lắng cặn sỏi, giảm nguy cơ hình thành sỏi (sỏi mật, sỏi thận). Sản phẩm đã được Bộ Y Tế kiểm nghiệm về chất lượng và cấp phép sản xuất, phân phối.

Bạn cần tư vấn và dùng bài thuốc từ dược liệu dân gian, an toàn.

Bạn muốn điều trị bảo tồn và tư vấn, sẻ chia trong suốt hành trình ngăn chặn sỏi. TƯ VẤN MIỄN PHÍ cùng Bác sĩ và Dược sĩ chuyên môn

sỏi mật trái sung

SỎI MẬT KHI MANG THAI

Khi phụ nữ mang thai, ngoài ốm nghén, rạn da và sưng chân, phụ nữ mang thai có thể gặp một số lo ngại khác như sỏi mật. Phụ nữ mang thai mắc bệnh sỏi mật có nguy cơ gia tăng, vậy bạn có thể làm những gì để ngăn ngừa khả năng mắc bệnh trong thời kỳ mang thai.

Sỏi mật có thể dẫn đến đau và một số triệu chứng khác nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến túi mật bị nhiễm trùng hoặc nặng có thể gây rò rỉ mật. Phụ nữ mang thai có tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật cao gấp 2 đến 3 lần so với nam giới. Tuy nhiên, không phải lúc nào mang thai thì bạn đểu mắc bệnh sỏi mật mà đó chính là một trong những yếu tố nguy cơ cao có thể mắc bệnh.

Theo nghiên cứu cứ khoảng 1600 phụ nữ thì sẽ có 1 phụ nữ cần phải cắt túi mật do sỏi mật khi mang thai dẫn đến những ảnh hưởng không tốt đến mẹ và bé.

1. Sỏi mật và mang thai có mối liên hệ như thế nào?

Mật là một chất lỏng được sản xuất bởi gan, chủ yếu được tạo thành từ cholesterol, bilirubin và muối mật. Túi mật có vai trò sẽ lưu trữ lượng dịch mật do gan tiết ra và khi bạn ăn thì dịch mật được giải phóng vào ruột non để giúp tiêu hóa chất béo và các vitamin tan trong dầu. Nếu những thành phần của dịch mật trở nên mất cân bằng có thể do quá nhiều cholesterol hoặc bilirubin và không đủ lượng muối mật dẫn đến có thể hình thành sỏi trong túi mật.

Phụ nữ mang thai có nguy cơ cao mắc bệnh sỏi mật vì theo Jose Nieto khi mang thai nồng độ estrogen tăng, hoặc tăng cân và giảm cân nhanh chóng trong thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ. Nguyên nhân estrogen tăng là một vấn đề vì nó khiến nồng độ cholesterol tăng một cách nhanh chóng chính điều này có thể dẫn đến sự phát triển của sỏi mật.

Phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai hay sử dụng các liệu pháp thay thế hormone cũng có nguy cơ cao mắc bệnh sỏi mật vì trong những thuốc trên có chứa estrogen. (Estrogen là một hormone sinh dục nữ nhưng cũng có mặt ở nam giới. Estrogen có vai trò quan trọng trong sự phát triển và duy trì các chức năng sinh sản.)

Sỏi mật ở phụ nữ mang thai
Sỏi mật và mang thai có mối liên hệ như thế nào?

2. Triệu chứng sỏi mật

Các triệu chứng của sỏi mật thường diễn tiến âm thầm tuy nhiên một số triệu chứng của sỏi mật có thể xuất hiện. Bạn có thể tìm hiểu một số triệu chứng của sỏi mật dưới đây:

  • ➠ Cơn đau kéo dài và dữ dội ở phần trên bên phải của bụng đặc biệt là sau khi bạn ăn mà trong khẩu phần có nhiều chất béo.
  • ➠ Sốt hoặc ớn lạnh.
  • ➠ Buồn nôn hoặc nôn.
  • ➠ Da vàng hoặc tròng trắng của mắt vàng.

Khi bạn có bất kỳ triệu chứng tiềm ẩn nào trên về túi mật. Lời khuyên cho bạn phải đến các cơ sở y tế để được khám và chữa trị kịp thời.

Sỏi mật thường diễn tiến âm thầm
Sỏi mật thường diễn tiến âm thầm

3. Chần đoán và điều trị

Để xác định các nguyên nhân trên có phải do sỏi mật gây nên, các Bác sĩ có thể tiến hành siêu âm ổ bụng. Một chú ý rằng khi sử dụng các biện pháp chuẩn đoán bạn nên cho biết mình đang trong thời kỳ mang thai để được chỉ định phương pháp chẩn đoán phù hợp. Vì một số phương pháp như chụp X-quang túi mật, CT có thể không an toàn trong thai kỳ.

Sỏi mật thường được điều trị bằng phẫu thuật cắt túi mật. Tùy thuộc vào các triệu chứng và yếu tố nguy cơ mà có thể đưa ra các lựa chọn như theo dõi tích cực trong khi mang thai hoặc loại bỏ túi mật trong khi đang mang thai cụ thể như sau:

➤ 3 tháng đầu thai kỳ

Đối với 3 tháng đầu của thai kỳ, bác sĩ khuyên không được phẫu thuật trừ những trường hợp nghiêm trọng. Do trong thời kỳ này khi phẫu thuật khả năng xảy thai cao, có thể gây các dị tật bẩm cho bé.

➤ 3 tháng giữa

Ở giai đoạn này bạn có thể phẫu thuật khi bị sỏi mật. Phương pháp phẫu thuật thường được sử dụng là mổ nội soi hơn là mổ hở.

➤ 3 tháng cuối thai kỳ

Khi bị sỏi mật trong 3 tháng cuối, bác sĩ thường khuyên bạn nên sinh xong rồi hãy tiến hành phẫu thuật.

Việc điều trị sỏi mật trong thai kỳ thường được khuyên nên tiến hành sau khi sinh để hạn chế các ảnh hưởng xấu đến mẹ và bé.

Điều trị sỏi mật trong thai kỳ
Điều trị sỏi mật trong thai kỳ thường được khuyên nên tiến hành sau khi sinh

4. Phòng ngừa sỏi mật khi mang thai

☑ Tăng cân lành mạnh: Béo phì là một trong những nguyên nhân gây mắc bệnh sỏi mật ở phụ nữ. Trong thời kỳ mang thai đây là khoảng thời gian bạn có thể tăng cân một cách đột biến nhưng bạn nên hỏi ý kiến của bác sĩ để tránh tăng cân quá mức.

☑ Bổ sung khẩu phần ăn nhiều chất xơ: Chất xơ có thể làm giảm nguy cơ gây sỏi mật đồng thời giúp mẹ và bé khỏe mạnh.

☑ Chất béo không bão hòa đơn (chất béo được chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng vì có khả năng làm giảm cholesterol xấu và không ảnh hưởng đến cholesterol tốt) và omega-3 giúp ngăn ngừa sỏi mật vì thực phẩm chứa nhiều chất béo bão hòa sẽ làm tăng nguy mắc bệnh sỏi mật.

☑ Giảm lượng đường và carbohydrat tinh chế: Vì đường và các sản phẩm làm từ bột mì như các loại bánh mì, mì ống, khoai tây chiên,…làm tăng nguy cơ sỏi mật.

giảm nguy cơ sỏi mật khi mang thai
Để giảm nguy cơ mắc bệnh sỏi mật trong quá trình mang thai bạn nên thay đổi chế độ ăn và lối sống

Những người bị bệnh đái tháo đường thường có lượng chất béo trung tính cao. Nếu bạn vừa mang thai vừa mắc bệnh tiểu đường thì bạn nên trao đổi với bác sĩ để kiểm soát bệnh đái tháo đường một cách tốt nhất.

soimattraisung.com

UNG THƯ TÚI MẬT

Ung thư túi mật, một căn bệnh được coi là hiếm, tuy nhiên nó là khối u ác tính phổ biến nhất của đường mật, chiếm từ 80-95% trong số các bệnh ung thư đường mật. Đây là bệnh tiến triển âm thầm và chẩn đoán muộn chỉ phát hiện được tình cờ khi siêu âm, nội soi,…Tỷ lệ sống trung bình sau khi phát hiện chỉ khoảng 6 tháng, tỷ lệ sống 5 năm chỉ là 5%. Sự tiên lượng xấu đối với bệnh này một phần do giữa gan và túi mật thiếu một lớp huyết thanh dẫn tới cho phép xâm lấn vào gan và tiến triển di căn. Mặc dù có khả năng chữa khỏi nhưng chỉ chiếm nhỏ hơn 10% bệnh nhân có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u trong khi đó gần 50% bị di căn hạch. Nhưng ngay khi cả đã phẫu thuật, hầu hết bệnh sẽ tiến triển sang di căn.

1. Các yếu tố nguy cơ

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư túi mật có xu hướng tăng theo độ tuổi. Theo một nghiên cứu của Memorial Sloan–Kettering tiến hành trên 435 bệnh nhân mắc bệnh có độ tuổi trung bình là 67 tuổi.

Một ghi nhận khác cho thấy ở nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh gấp 2 đến 6 lần so với nam giới trên toàn thế giới, đặc biệt ở miền bắc Ấn Độ, Pakistan, cho thấy tầm quan trọng của hormone giới tính nữ có mối liên hệ với việc gia tăng tỷ lệ bệnh.

Sự khác biệt vị trí địa lý/ dân tộc thì tỷ lệ mắc bệnh cũng sẽ khác nhau. Châu Á là một lục địa có nguy cơ mắc bệnh cao, tần suất ung thư túi mật tăng cao xảy ra ở nữ miền Bắc Ấn Độ, Paskistan và nam Hàn Quốc.

1.1 Sỏi Mật

Sỏi mật là một yếu tố nguy cơ cao đối với căn bệnh này, hiện diện hầu hết ở bệnh nhân ung thư túi mật. Đặc điểm sỏi mật sẽ ảnh hưởng đến tần suất phát triển ung thư. Việc giảm kích thước sỏi mật sẽ làm giảm nguy cơ ung thư túi mật, ở những bệnh nhân có kích thước sỏi lớn hơn 3 cm thì nguy cơ tăng gấp 10 lần so với những người có kích thước sỏi nhỏ hơn. Thể chất sỏi cũng có vai trò quan trọng, người Ấn Độ và các nhóm khác có tỷ lệ mắc ung thư biểu mô túi mật cao cũng có tỷ lệ mắc bệnh sỏi mật cholesterol rất cao.

1.2 Viêm Mãn Tính

Viêm mãn tính liên quan chặt chẽ đến biến đổi ác tính, là một yếu tố chính trong sinh ung thư, gây ra tổn thương axit deoxyribonucleic (DNA), việc các mô tăng sinh lặp đi lặp lại để phục hồi các tổn thương, giải phóng các cytokine (cytokine là các protein hay glycoprotein được sản xuất và phóng thích bởi các tế bào bạch cầu viêm và một số tế bào khác không phải tế bào bạch cầu) và các yếu tố tăng trưởng. Do đó dẫn đến các tế bào biến đổi thành ung thư. Cho nên người bệnh sỏi túi mật với chấn thương lặp đi lặp lại dẫn đến viêm mãn tính có thể chính là cơ chế của ung thư sau phát triển sau nhiều năm. Ngoài ra, viêm mãn tính có thể dẫn đến tăng lượng canxi trong thành túi mật, khi lượng canxi qua nhiều, túi mật sẽ giãn nhiều trở nên mỏng và có thể vỡ. Theo một nghiên cứu gần đây của 340 bệnh nhân bị vôi hóa túi mật đã ghi nhận được 21% có khối u ác tính túi mật.

1.3 Vi Khuẩn

Sự xâm nhập của các vi khuẩn như Salmonell, S.paratyphi, Helicobacter,…có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi ác tính, thông qua sự thoái hóa của các thành phần mật (sự thủy phân của vi khuẩn các axit mật tạo thành các chất gây ung thư,…)

Những người béo phì có chỉ số BMI>30 kg/m2 (Chỉ số BMI hay còn gọi là chỉ số khối cơ thể, chỉ số thể trọng, là một công cụ dùng để đo lượng mỡ trong cơ thể. Thường được tính dựa trên chiều cao và cân nặng.) Béo phì và hội chứng chuyển hóa cũng gây nên các mối lo ngại về sức khỏe, một trong số đó có thể dẫn đến ung thư túi mật.

Ngoài các yếu tố nguy cơ trên còn có các yếu tố như sự bất thường của ống mật tụy và ống thông, polyp túi mật, yếu tố di truyền,….

tăng kích thước sỏi làm tăng nguy cơ ung thư túi mật
Việc tăng kích thước sỏi làm tăng nguy cơ ung thư túi mật

2. Dấu hiệu và triệu chứng của ung thư túi mật

Triệu chứng của ung thư túi mật thường không xuất hiện cho đến khi bệnh tiến triển xa, đã lan đến các cơ quan gần đó và hạch bạch huyết.

Một số triệu chứng bao gồm:

  • ➢ Đau bụng thường ở phần trên bên phải bụng.
  • ➢ Vàng da và vàng mắt khi nồng độ bilirubin cao do tắc nghẽn ống dẫn mật.
  • ➢ Bụng sần xảy ra khi túi mật phình to ra do ống mật bị tắc hoặc ung thư lan đến gan và khối u ở bên phải bụng.
  • ➢ Buồn nôn và ói mửa.
  • ➢ Giảm cân, sốt, đầy hơi.
Ung thư túi mật thường không xuất hiện cho đến khi bệnh đã tiến triển xa
Ung thư túi mật thường không xuất hiện cho đến khi bệnh đã tiến triển xa

3. Các xét nghiệm chẩn đoán

Đôi khi, ung thư túi mật được tìm thấy tình cờ trong túi mật đã được cắt bỏ vì viêm túi mật hoặc một số lý do khác. Tuy nhiên thông thường, bác sĩ sẽ tiến hành các xét nghiệm chần đoán khi có kèm theo các triệu chứng xuất hiện trước đó. Một số xét nghiệm thường qui sử dụng hỗ trợ trong việc chẩn đoán:

  • ⦿ Xét nghiệm máu, kiểm tra chức năng gan, túi mật và ống mật.
  • ⦿ Siêu âm: sẽ thu được hình ảnh của túi mật và gan.
  • ⦿ Chụp CT: cho thấy hình ảnh của túi mật và các cơ quan xung quanh.
  • ⦿ Quét MRI: các hình ảnh thu được sẽ chi tiết hơn so với các thử nghiệm khác.
  • ⦿ Chụp đường mật qua da (PTC) và nội soi mật ngược dòng (ERCP).
  • ⦿ Sinh thiết: một mảnh nhỏ của khối u sẽ được lấy và nhìn dưới kính hiển vi để chẩn đoán.

Từ các kết quả chẩn đoán trên kết hợp với các triệu chứng của bệnh nhân mà bác sĩ có những hướng điều trị khác nhau cho mỗi người.

Theo hệ thống phân loại TNM (hệ thống phổ biến và hiệu quả nhất cho hầu hết các loại ung thư) được Ủy ban liên hợp về ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Hiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC) lựa chọn là công cự phân loại giai đoạn bệnh. Ung thư túi mật đã sử dụng thang đo từ 0-4 dựa trên mức độ ung thư đã phát triển vào thành túi mật và mức độ lan rộng của bệnh. Giai đoạn 0 là các tế bào bất thường đã lây lan được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Ở gian đoạn 4, các khối u lớn hơn rất nhiều và đã di căn đến các bộ phận khác của cơ thể.

Xét nghiệm, chuẩn đoán giúp phát hiện sớm ung thư
Xét nghiệm, chuẩn đoán giúp phát hiện ung thư túi mật

4. Điều trị ung thư túi mật

Khi ung thư túi mật được phát hiện ở giai đoạn sớm chưa lây lan ra các cơ quan khác thì phẫu thuật có khả năng chữa ung thư túi mật với điều kiện các tế bào ung thư phải được loại bỏ hoàn toàn.

Tuy nhiên, thống kê từ ACS chỉ có 1/5 người được chẩn đoán trước khi ung thư di căn.

Hoặc bệnh nhân có thể được xạ trị, hóa trị sau khi đã thực hiện phẫu thuật.

Ngoài ra, các biện pháp chăm sóc giảm nhẹ để giảm các triệu chứng bệnh của bệnh nhân được thực hiện như sử dụng thuốc giảm đau, đặt ống thông mật, đặt stent,…

Các nghiên cứu ghi nhận, trung bình tỷ lệ sống sống sót sau năm năm đối với tất cả các giai đoạn của ung thư túi mật là 19%. Theo ASCO, tỷ lệ sống sau năm năm đối với ung thư túi mật từng giai đoạn:

  • ➢ Giai đoạn 0 (ung thư biểu mô tại chỗ): 80%
  • ➢ Giai đoạn 1 (ung thư giới hạn tại túi mật): 50%
  • ➢ Giai đoạn 3 (ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết): 8%
  • ➢ Giai đoạn 4 (ung thư đã di căn): <4%

Với các thống kê trên về yếu tố nguy cơ như tuổi tác, sắc tộc không thể thay đổi được. Tuy nhiên, một lối sống lành mạnh có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh. Hãy duy trì cân năng trong mức an toàn, luyện tập thể dục thường xuyên có thể giảm được mắc nhiều loại ung thư trong đó có cả ung thư túi mật.

Chế độ ăn uống lành mạnh, tăng cường ăn trái cây và rau quả có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể mắc các bệnh,… Thay vào các ngũ cốc tinh chế là ngũ cốc nguyên hạt, hạn chế thực phẩm chế biến sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh.

Về Sỏi Mật Trái Sung

Sỏi Mật Trái Sung chiết xuất từ trái sung, kim tiền thảo, nấm linh chi…dùng cho người bị sỏi mật, sỏi thận và các trường hợp sau phẫu thuật lấy sỏi, tán sỏi để tăng bài tiết lắng cặn sỏi, giảm nguy cơ hình thành sỏi (sỏi mật, sỏi thận). Sản phẩm đã được Bộ Y Tế kiểm nghiệm về chất lượng và cấp phép sản xuất, phân phối.

Bạn cần tư vấn và dùng bài thuốc từ dược liệu dân gian, an toàn.

Bạn muốn điều trị bảo tồn và tư vấn, sẻ chia trong suốt hành trình ngăn chặn sỏi. TƯ VẤN MIỄN PHÍ cùng Bác sĩ và Dược sĩ chuyên môn

sỏi mật trái sung
Sỏi mật trái sung điều trị sỏi mật, sỏi thận, phòng tránh tái phát sỏi